Bạn đang tại:--90 mùa xuân vinh quang của Đảng

90 mùa xuân vinh quang của Đảng

Trong 90 năm xây dựng và trưởng thành, Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra chủ trương, đường lối, phương pháp cách mạng đúng đắn để lãnh đạo nhân dân Việt Nam giành thắng lợi trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc việt Nam xã hội chủ nghĩa.

MÙA XUÂN NĂM CANH NGỌ LỊCH SỬ

Sau khi đến với chủ nghĩa Mác – Lênin, trở thành người cộng sản Việt Nam đầu tiên, một trong những người sáng lập Đảng Cộng sản Pháp, Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh bắt đầu xúc tiến chuẩn bị về chính trị, tư tưởng và tổ chức để thành lập một chính đảng kiểu mới ở Việt Nam. Tháng 11/1924, Người về Quảng Châu (Trung quốc), mở lớp huấn luyện chính trị, thành lập Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên (6/1925), ra báo Thanh niên (21/6/1925) cùng các tờ báo Công nông, Lính cách mệnh, Tiền phong… nhằm truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin vào Việt Nam; làm cho luồng gió cách mạng của thời đại thẩm thấu vào phong trào công nhân và phong trào yêu nước của nhân dân ta, tạo nên sự chuyển biến sâu sắc về chất và lượng.

Những bài giảng của Người ở lớp huấn luyện chính trị tại Quảng Châu được tập hợp thành cuốn sách “Đường Cách mệnh” (xuất bản năm 1927); trong đó, Người khẳng định: “Trước hết phải có đảng cách mệnh, để trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi. Đảng có vững cách mệnh mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy”  và Đảng phải có hệ tư tưởng tiên tiến, cách mạng và khoa học dẫn đường, đó là “phải theo chủ nghĩa Mã Khắc Tư và Lênin” [1]…

Cùng với đó, chủ nghĩa Mác – Lênin thông qua phong trào “vô sản hóa” được những chiến sĩ tiên phong của Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên truyền bá về trong nước, tạo sự chuyển biến về nhận thức và hành động. Phong trào công nhân chuyển mạnh từ đấu tranh tự phát sang tự giác, từ đấu tranh đòi quyền lợi về kinh tế lên đấu tranh đòi quyền lợi về chính trị; phong trào yêu nước phát triển sâu rộng theo huynh hướng vô sản, tạo điều kiện chín muồi cho sự ra đời của Đông Dương Cộng sản Đảng (6/1929), An Nam cộng sản Đảng (10/1929) và Đông Dương Cộng sản Liên đoàn (1/1930).

Việc xuất hiện ba tổ chức cộng sản biệt lập, cùng ra Tuyên ngôn, Chính cương và Điều lệ trong nước dẫn đến tình trạng tranh giành ảnh hưởng lẫn nhau, chia rẽ và phân liệt phong trào đấu tranh cách mạng. Nhận thức sâu sắc nguy cơ bất lợi cho sự phát triển của phong trào cách mạng Đông Dương, với nhãn quan chính trị nhạy bén, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã chủ động, kịp thời trên cương vị “phái viên của Quốc tế Cộng sản có đầy đủ quyền quyết định mọi vấn đề liên quan đến phong trào cách mạng ở Đông Dương” gửi thư về nước mời đại diện của các tổ chức cộng sản sang Hồng Kông bàn việc hợp nhất các tổ chức cộng sản.

Mùa xuân năm 1930, tại Cửu Long, Hồng Kông (từ ngày 6/1/1930 đến ngày 7/2/1930), Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản đã được tiến hành dưới sự chủ trì của Nguyễn Ái Quốc. Tham dự Hội nghị có Trịnh Đình Cửu và Nguyễn Đức Cảnh (Đông Dương Cộng sản Đảng); Nguyễn Thiệu và Châu Văn Liêm (An Nam Cộng sản Đảng) và Hồ Tùng Mậu và Lê Hồng Sơn giúp việc Hội nghị. Trên cơ sở bỏ mọi thành kiến xung đột cũ và đoàn kết, Hội nghị thống nhất đặt tên Đảng là Đảng Cộng sản Việt Nam, thông qua Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Điều lệ vắn tắt, Chương trình tóm tắt của Đảng do Người dự thảo. Các văn kiện này trở thành Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng; trong đó, Đảng xác định rõ đường lối, mục tiêu, phương châm của cách mạng Việt Nam là: “Làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”… Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác – Lênin, phong trào công nhân và phong trào yêu nước. Đó là đội tiền phong của giai cấp công nhân và dân tộc, “là đạo đức, là văn minh”, là danh dự, lương tâm của dân tộc và thời đại.

“ĐẢNG KHÔNG PHẢI LÀ MỘT TỔ CHỨC ĐỂ LÀM QUAN PHÁT TÀI” 

Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: Đảng ta là đạo đức, là văn minh, là thống nhất, là độc lập, là hoà bình, ấm no, do đó Đảng phải được xây dựng, tổ chức và hoạt động theo 12 “tư cách của Đảng chân chính cách mạng” [2]. Trong đó, “1. Đảng không phải là một tổ chức để làm quan phát tài. Nó phải làm tròn nhiệm vụ giải phóng dân tộc, làm cho Tổ quốc giàu mạnh, đồng bào sung sướng. 2. Cán bộ của Đảng phải hiểu biết lý luận cách mạng và lý luận cùng thực hành phải luôn luôn đi đôi với nhau. 3. Khi đặt ra khẩu hiệu và chỉ thị, luôn luôn phải dựa vào điều kiện thiết thực và kinh nghiệm cách mạng ở các nước, ở trong nước và ở địa phương. 4. Phải luôn luôn do nơi quần chúng mà kiểm soát những khẩu hiệu và chỉ thị đó có đúng hay không. 5. Phải luôn luôn xem xét lại tất cả công tác của Đảng. Mọi công tác của Đảng luôn luôn phải đứng về phía quần chúng. Phải đem tinh thần yêu nước và cần, kiệm, liêm, chính mà dạy bảo cán bộ, đảng viên và nhân dân” [3].

Trong công  tác lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức nhân dân thực hiện nhiệm vụ của mỗi giai đoạn cách mạng, Đảng: “6, phải giữ nguyên tắc và phải liên hợp chặt chẽ với dân chúng. Nếu không vậy, thì chẳng những không lãnh đạo được dân chúng mà cũng không học được dân chúng. Chẳng những không nâng cao được dân chúng, mà cũng không biết ý kiến của dân chúng. 7, phải giữ vững tính cách mạng của nó, lại phải khéo dùng những cách thức thi hành cho hoạt bát”; đồng thời, “8, không che giấu những khuyết điểm của mình, không sợ phê bình. Đảng phải nhận khuyết điểm của mình mà tự sửa chữa, để tiến bộ và để dạy bảo cán bộ và đảng viên”, “9, phải chọn lựa những người rất trung thành và rất hăng hái, đoàn kết họ thành nhóm trung kiên lãnh đạo” và “10, phải luôn luôn tẩy bỏ những phần tử hủ hóa ra ngoài”. Đặc biệt, Đảng “11, phải giữ kỷ luật rất nghiêm từ trên xuống dưới. Kỷ luật này là tư tưởng phải nhất trí, hành động phải nhất trí. Kỷ luật này là do lòng tự giác của đảng viên về nhiệm vụ của họ đối với Đảng” và “12, phải luôn luôn xét lại những nghị quyết và những chỉ thị của mình đã thi hành thế nào. Nếu không vậy thì những nghị quyết và chỉ thị đó sẽ hóa ra lời nói suông mà còn hại đến lòng tin cậy của nhân dân đối với Đảng” [4].

Trong Đảng, cán bộ, đảng viên không chỉ thấm nhuần sâu sắc vai trò, sức mạnh của đạo đức cách mạng, coi đạo đức là gốc, là căn bản, là nền tảng mà còn phải thường xuyên rèn luyện “như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong”. Cụ thể, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, mỗi người đều phải phải thấm nhuần đạo đức cách mạng, nhất là phải có và thường xuyên rèn luyện 5 đức tínhnhư: “NHÂN là thật thà thương yêu, hết lòng giúp đỡ đồng chí và đồng bào. Vì thế mà kiên quyết chống lại những người, những việc có hại đến Đảng, đến nhân dân, vì thế mà sẵn lòng chịu cực khổ trước mọi người, hưởng hạnh phúc sau thiên hạ. Vì thế mà không ham giàu sang, không e cực khổ, không sợ oai quyền.  NGHĨA là ngay thẳng, không có tư tâm, không làm việc bậy, không có việc gì phải giấu Đảng, ngoài lợi ích của Đảng, không có lợi ích riêng phải lo toan. Lúc Đảng giao cho việc, thì bất cứ  to nhỏ, đều ra sức làm cẩn thận. Thấy việc phải thì làm, thấy việc phải thì nói. Không sợ người ta phê bình mình, mà phê bình người khác cũng đúng đắn. TRÍ là vì không có việc tư túi nó làm mù quáng, cho nên đầu óc trong sạch, sáng suốt. Dễ hiểu lý luận. Dễ tìm phương hướng. Biết xem người. Biết xét việc. Vì vậy, mà biết làm việc có lợi, tránh việc có hại cho Đảng, biết vì Đảng mà cân nhắc người tốt, đề phòng người gian.  DŨNG là dũng cảm, gan góc, gặp việc là phải có gan làm. Thấy khuyết điểm phải có gan sửa chữa. Cực khổ khó khăn, có gan chịu đựng. Có gan chống lại sự vinh hoa, phú quý, không chính đáng. Nếu cần, có gan hy sinh cả tính mệnh cho Đảng, cho Tổ quốc. LIÊM là không tham địa vị. Không tham tiền tài. Không tham sung sướng. Không ham người tâng bốc mình. Vì vậy mà quang minh chính đại, không bao giờ hủ hoá. Chỉ có một thứ là ham học, ham làm, ham tiến bộ” [5].

Cũng theo lời Người, để làm tròn nhiệm vụ Tổ quốc và nhân dân giao phó, Đảng và mỗi cán bộ, đảng viên phải xác định rõ: “Nước ta là nước dân chủ, địa vị cao nhất là dân vì dân là chủ” và “trong xã hội, không có gì tốt đẹp, vẻ vang bằng phục vụ cho lợi ích của nhân dân” để luôn hướng về nhân dân, vì nhân dân phục vụ và tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân. Người thường xuyên phê phán bệnh quan liêu, mệnh lệnh, xa rời quần chúng, tư tưởng đặc quyền, đặc lợi của một bộ phận cán bộ, đảng viên “cách xa dân chúng, không liên hệ chặt chẽ với dân chúng”. Đồng thời, Người yêu cầu tất cả cán bộ chính quyền, tất cả cán bộ đoàn thể và tất cả hội viên của các tổ chức nhân dân… đều phải phụng sự nhân dân trên tinh thần luôn “đặt lợi ích của nhân dân lên trên hết; Liên hệ chặt chẽ với nhân dân; Việc gì cũng bàn với nhân dân, giải thích cho nhân dân hiểu rõ; Có khuyết điểm thì thật thà tự phê bình trước nhân dân, và hoan nghênh nhân dân phê bình mình; Sẵn sàng học hỏi nhân dân; Tự mình phải làm gương mẫu cần kiệm liêm chính, để nhân dân noi theo. Cán bộ Đảng và chính quyền ta đều sẵn lòng cầu tiến bộ, sẵn chí phụng sự nhân dân” [6], để quy tụ được nhân dân, làm cho nhân dân tin yêu, gắn bó và ủng hộ.

Đó chính là đạo đức của Đảng macxit cách mạng, trong sạch, vững mạnh và của mỗi cán bộ, đảng viên – những người đảm nhận trọng trách kép vừa là người lãnh đạo vừa là người đày tớ thật trung thành của nhân dân, luôn “làm mực thước cho dân”, “lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ” mà không cầu danh lợi, không màng phú quý, coi khinh sự xa hoa, giản dị trong lối sống đời thường…

ĐỂ ĐẢNG LUÔN “LÀ ĐẠO ĐỨC, LÀ VĂN MINH”

Trong 90 năm qua kể từ khi ra đời vào mùa xuân năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam với đường lối chiến lược đúng đắn, sách lược mềm dẻo, luôn vì nước, vì dân đã tập hợp quần chúng, tổ chức họ, lãnh đạo họ, đưa họ ra đấu tranh và liên tiếp giành được thành tựu. Thắng lợi cuộc cách mạng giải phóng dân tộc (1930-1945); xây dựng chế độ xã hội mới, tiến hành cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954); xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (1954-1975và cả nước cùng đi lên chủ nghĩa xã hội (1975 – nay), kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là minh chứng sinh động khẳng định trên thực tế sự lãnh đạo đúng đắn và sáng suốt của Đảng; đồng thời, 90 năm đó cũng đã tôi luyện, thử thách để Đảng không ngừng trưởng thành, dày dạn kinh nghiệm, ngày càng xứng đáng với vai trò lãnh đạo và sự tin cậy của nhân dân.

Việc tuân thủ nghiêm ngặt các nguyên tắc xây dựng Đảng: Tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách; tự phê bình và phê bình; kỷ luật nghiêm minh; đoàn kết thống nhất; gắn bó mật thiết với nhân dân, v.v.. và sự nêu gương mẫu mực về đạo đức cách mạng của mỗi cán bộ, đảng viên được thực hiện xuyên suốt và nhất quán trong mọi thời điểm, mọi hoàn cảnh đã góp phần làm nên sức mạnh vô địch của Đảng, sức hấp dẫn của mỗi cán bộ, đảng viên. Vì thế, không phải ngãu nhiên Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ khẳng định: “Trước mặt quần chúng, không phải ta cứ viết lên trán chữ “cộng sản” mà ta được họ yêu mến. Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách, đạo đức. Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước… Muốn làm cách mạng, phải cải cách tính nết mình trước tiên” [7], yêu cầu mọi cán bộ, đảng viên phải thường xuyên rèn luyện đạo đức cách mạng mà còn không ngừng rèn luyện, gương mẫu về đạo đức cách mạng, thống nhất giữa lời nói với việc làm.

Bản chất cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam khác với các đảng phái chính trị khác ở chỗ “Đảng không phải là một tổ chức để làm quan phát tài” và cán bộ, đảng viên của Đảng phải vừa là người lãnh đạo, vừa là người đày tớ trung thành của nhân dân. Ngược lại, khi cán bộ, đảng viên sa vào chủ nghĩa cá nhân, lãng phí, quan liêu, tham ô, tham nhũng, vô kỷ luật, coi thường phép nước, rời xa nhân dân, v.v.. họ sẽ chỉ là “những ông quan phụ mẫu”, những “con sâu mọt” làm mất uy tín, danh dự của Đảng, làm cho Đảng quan liêu, xa dân, dẫn đến lxói mòn lòng tin của nhân dân với Đảng.

Trên tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật và thấu triệt chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Một đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một đảng hỏng. Một đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch ra khuyết điểm đó, vì đâu mà có khuyết điểm, xét rõ hoàn cảnh sinh ra hoàn cảnh đó, rồi tìm kiếm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó, như vậy là một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính” [8], công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng luôn được chú trọng và đẩy mạnh.

Trong nhiệm kỳ Đại hội XII của Đảng, việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”,“tự chuyển hóa” trong nội bộ” gắn với Chỉ thị 05- CT/TW của Bộ Chính trị khóa XII về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” sâu rộng, thiết thực, trở thành nền nếp trong toàn Đảng, toàn quân và toàn dân đã mang lại những kết quả tích cực, tạo chuyển biến rõ nét trong nhận thức và hành động của mỗi cấp ủy và của từng cán bộ, đảng viên. Hằng năm, ở mỗi địa phương, cơ quan, đơn vị đều xây dựng chương trình, kế hoạch, nội dung thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 gắn với chuẩn mực đạo đức công vụ phù hợp, chủ động phòng, chống và đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Nhiều cách làm mới, sáng tạo trong thực hiện cải cách thủ tục hành chính; nâng cao tinh thần và trách nhiệm thực thi công vụ; kiểm điểm tự phê bình và phê bình tập thể, cá nhân gắn với nhận diện những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”… được triển khai trong sinh hoạt chuyên đề tại các chi bộ.

Công tác cán bộ được chú trọng; trong đó, công tác đào tạo, bồi dưỡng, quy hoạch cán bộ gắn với tăng cường kiểm tra, giám sát, nhất là ở các lĩnh vực nhạy cảm, dễ phát sinh tiêu cực đã mang lại hiệu quả thiết thực tại các địa phương, cơ quan, đơn vị. Cùng với đó, việc phát huy vai trò nêu gương của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu mỗi tổ chức, địa phương, cơ quan, đơn vị, nhất là trong thực thi công vụ đã góp phần phòng, chống và ngăn ngừa các biểu hiện suy thoái, tha hóa bởi quyền lực. Việc nghiêm túc, công tâm sàng lọc và kịp thời đánh giá, kiểm điểm, miễn nhiệm, thay thế những cán bộ vi phạm kỷ luật Đảng, tham ô, tham nhũng, làm giàu bất chính để mưu lợi ích cho mình, cho người thân và nhóm lợi ích đã góp phần giữ vững kỷ luật, kỷ cương của Đảng, được nhân dân đồng tình và ủng hộ.

Tuy nhiên, là những hệ lụy của quyền lực, con đẻ của chủ nghĩa cá nhân: Thói trái phép, cậy thế, hủ hoá, tư túng, chia rẽ, kiêu ngạo; tệ quan liêu, tham ô, tham nhũng, lãng phí, sách nhiễu nhân dân; “chạy chức”, “chạy quyền”, “chạy tội”, “chạy bằng cấp”, “chạy quy hoạch”… trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên từng được Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ ra trong những bài nói, bài viết của mình vẫn còn là những vấn nạn chưa được ngăn chặn, đẩy lùi triệt để tại các cơ quan Đảng, Nhà nước và hệ thống chính trị. Sự suy thoái của bộ phận không nhỏ “những con sâu làm rầu nồi canh” đó đã biến “những nghị quyết và chỉ thị Đảng” thành những “lời nói suông”, biến những “công bộc của dân”, “đày tớ của nhân dân” trở thành “cha mẹ dân”, gây bức xúc trong nhân dân. Những việc làm của họ trái với lợi ích của Đảng, trái với 12 điều quy định về Đảng và những chuẩn mực của người đảng viên cộng sản, làm giảm sút vai trò lãnh đạo của Đảng, làm tổn thương tình cảm và suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng, trở thành nguy cơ trực tiếp đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ.

Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII cũng chỉ rõ thực trạng này thông qua việc chỉ ra 27 biểu hiện suy thoái của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên không chấp hành nghiêm các nguyên tắc tổ chức của Đảng; sa sút ý chí phấn đấu, không gương mẫu trong công tác; né tránh trách nhiệm, thiếu trách nhiệm, trung bình chủ nghĩa, làm việc qua loa, đại khái, kém hiệu quả; không còn ý thức hết lòng vì nước, vì dân, không làm tròn chức trách, nhiệm vụ được giao”. Những biểu hiện quan liêu, xa rời quần chúng, không sâu sát cơ sở, thiếu kiểm tra, đôn đốc, không nắm chắc tình hình địa phương, cơ quan, đơn vị mình; thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm trước những khó khăn, bức xúc và đòi hỏi chính đáng của nhân dân và nhất là biểu hiện “tư duy nhiệm kỳ”, “cục bộ”, “thân quen”, “lợi ích nhóm”, mất dân chủ, thiếu gương mẫu, “nể nang, dễ dãi”, “chạy chọt, vận động, tranh thủ lẫn nhau” trong quy hoạch, đề bạt, bổ nhiệm cán bộ…vẫn còn tồn tại ở không ít không ít cơ quan, địa phương, đơn vị.

Để khắc phục những hạn chế nêu trên, thiết thực xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh, các cấp ủy đảng và mỗi cán bộ, đảng viên phải tiếp tục thực hiện nghiêm túc các nguyên tắc xây dựng Đảng, Điều lệ Đảng; gắn việc thực hiện Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị khóa XII về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” với Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ“, với Quy định về những điều đảng viên không được làm và các Quy định về nêu gương.

Cùng với việc tăng cường giáo dục chính trị, tư tưởng, cấp ủy các cấp và đội ngũ cán bộ, đảng viên phải nỗ lực rèn luyện bản lĩnh chính trị, đạo đức cách mạng, phòng, chống và quét sạch chủ nghĩa cá nhân gắn với đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham ô, tham nhũng, lãng phí, quan liêu, thực hành “cần kiệm liêm chính, chí công vô tư”, luôn tự phê bình và phê bình trên cơ sở của tình thương yêu đồng chí lẫn nhau để đoàn kết thống nhất trong ý chí, hành động. Đồng thời, gắn bó mật thiết với nhân dân, hết lòng vì nhân dân phục vụ và coi sự giám sát, đánh giá của nhân dân là thước đo, là một tiêu chuẩn đánh giá những ưu điểm, khuyết điểm của cấp ủy các cấp và đội ngũ cán bộ, đảng viên trong mọi mặt công tác, nhất là trong quy hoạch và bổ nhiệm cán bộ.

Nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ, đưa sinh hoạt chi bộ hằng tháng theo chuyên đề gắn với chuyên đề năm 2020 “Tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” trở thành nền nếp, như cầu tự thân của mỗi tổ chức cơ sở đảng, mỗi cán bộ, đảng viên, góp phần nâng cao chất lượng sinh hoạt Đảng, nâng cao tính tiền phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên trong thực thi công vụ.

Tiếp tục đẩy mạnh cuộc đấu tranh phòng và chống tham ô, tham nhũng, lãng phí, quan liêu; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát; xây dựng cơ chế phòng ngừa, ngăn chặn quan hệ “lợi ích nhóm”, chống đặc quyền, đặc lợi; đồng thời, trừng trị nghiêm khắc những kẻ tham ô, tham nhũng, làm giàu bất chính, xâm phạm lợi ích của nhân dân, bất kể chúng là ai, giữ chức vụ gì và kiên quyết đưa ra khỏi Đảng những kẻ tha hóa, biến chất, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” đã dùng tiền tài để mua và “chui lọt” vào những chức vụ, vị trí trong các cơ quan Đảng, Nhà nước chỉ để nhằm “dĩ công vi tư”, mưu cầu cho nhóm lợi ích.

Dưới ánh sáng chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, kế thừa và vận dụng sáng tạo những bài học kinh nghiệm, tận dụng thời cơ và thuận lợi, khắc phục mọi khó khăn và trở ngại, toàn Đảng, toàn quân và toàn dân quyết tâm thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XII của Đảng, tổ chức thành công đại hội đảng bộ các cấp và Đại hội XIII của Đảng. /.

Triển khai thực hiện chuyên đề năm 2020 về “Tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”, các cấp ủy, chính quyền các cấp cần lựa chọn vấn đề còn tồn tại, hạn chế có liên quan đến nội dung của chuyên đề để tập trung giải quyết dứt điểm gắn với kế hoạch thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII; Quy định số 08-QĐi/TW của Ban Chấp hành Trung ương về “Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương”; Nghị quyết số 35-NQ/TW về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”; Chỉ thị số 35-CT/TW của Bộ Chính trị về “Đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng”, đảm bảo hiệu quả, thiết thực. 

Bài viết của TS. Văn Thị Thanh Mai, Ban Tuyên giáo Trung ương và TS. Vũ Văn Tuấn, Học viện Kỹ thuật quân sự.


[1] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia- Sự Thật, Hà Nội, 2011 , t.2, tr.304

[2] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia – Sự Thật, Hà Nội, 2011, t.5, tr.289- 290

[3] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia – Sự Thật, Hà Nội, 2011, t.5, tr.289

[4] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia – Sự Thật, Hà Nội, 2011, t.5, tr.289-290

[5] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia – Sự Thật, Hà Nội, 2011, t.5, tr.292

[6] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia – Sự Thật, Hà Nội, 2011, t.7, tr.177

[7] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia – Sự Thật, Hà Nội, 2011, t.6, tr.16

[8] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội, 2011, t.5, tr.301

Nguồn: Tạp chí của Ban Tuyên giáo Trung ương (http://tuyengiao.vn)

2020-02-02T23:49:07+00:00 02/02/20|NỔI BẬT|