Bạn đang tại:-, ĐẠI HỘI ĐẢNG XII-Nhận thức về chủ nghĩa xã hội qua 30 năm đổi mới

Nhận thức về chủ nghĩa xã hội qua 30 năm đổi mới

Chuyên mục Tuyên giáo Trường Đại học Giao thông vận tải Thành phố Hồ Chí Minh trân trọng giới thiệu bài viết “Nhận thức về chủ nghĩa xã hội qua 30 năm đổi mới”của PGS.TS Nguyễn Viết Thông, Tổng Thư ký Hội đồng Lý luận Trung ương trên Tạp chí của Ban Tuyên giáo Trung ương.

1. Quá trình hình thành và phát triển nhận thức mới của Đảng về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam qua thực tiễn 30 năm đổi mới 

Đây là vấn đề lý luận tổng quát, bao trùm các vấn đề, các lĩnh vực cụ thể của đổi mới và phát triển ở nước ta. Nó góp phần làm sáng tỏ những điểm cốt yếu của lý luận đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa, lý luận chủ nghĩa xã hội Việt Nam , đem lại câu trả lời cho câu hỏi lớn đặt ra trên hai phương diện:

– Chủ nghĩa xã hội là gì? Xã hội xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam bao gồm những đặc trưng nào?

– Xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam như thế nào, trong điều kiện quá độ lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế? Từ thực tiễn đổi mới, có thể hình dung mô hình, con đường, phương hướng đi lên chủ nghĩa xã hội như thế nào?

Qua 30 năm đổi mới, nhận thức của Đảng về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội đã có những đổi mới căn bản so với quan niệm truyền thống về chủ nghĩa xã hội theo mô hình Xô Viết trước đây, phù hợp với thực tiễn lịch sử đã biến đổi.

1. Về hệ mục tiêu của đổi mới – đặc trưng tổng quát của chủ nghĩa xã hội Việt Nam 

– Đại hội VI (tháng 12/1986) khi xác định hệ mục tiêu của đổi mới, Đảng ta mới chỉ xác định được ba mục tiêu: đổi mới vì dân giàu, nước mạnh, xã hội văn minh . Tuy chưa thật đầy đủ nhưng ba mục tiêu này rất quan trọng, đặt ra một quan hệ tổng quát từ vị thế của ba chủ thể: Dân – Nước và Xã hội . Các định tính gắn liền với các chủ thể: Giàu – Mạnh – Văn minh. Các tác động chi phối: dân giàu để nước mạnh, làm cho dân giàu, nước mạnh thì sẽ có một xã hội văn minh.

Đáng lưu ý là dân giàu gắn liền với nước mạnh, trong tất cả các đại hội Đảng, qua các chặng đường của đổi mới, dân giàu, nước mạnh luôn luôn ở vị trí hàng đầu . Nó gợi mở sự giàu mạnh này là cả vật chất lẫn tinh thần, là lợi ích thiết thực nhất mà người dân được thụ hưởng trực tiếp. Nó cũng là khởi đầu cho tư duy mới về chủ nghĩa xã hội – một chủ nghĩa xã hội dựa trên sự giàu có (khác xa với tư duy giáo điều một thời dị ứng với “giàu có”, coi giàu có là chủ nghĩa tư bản. Quan niệm đó xa lạ với tư duy phát triển, hiện đại mà chúng ta hướng tới trong đổi mới).

Những mục tiêu nêu trên của Đại hội VI có giá trị định hướng rất quan trọng đối với phát triển đất nước, mà sâu xa là phát triển tiềm lực sáng tạo của nhân dân, hướng mục đích của đổi mới vào phục vụ lợi quyền của nhân dân.

– Đến Đại hội VII (1991), qua thực tiễn những năm đầu chuyển sang cơ chế thị trường với cạnh tranh và phân hóa, nhất là phân hóa giàu – nghèo, Đảng ta đã bổ sung vào hệ mục tiêu một mục tiêu quan trọng khác, đó là công bằng : “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng , văn minh”.

Công bằng là thuộc tính bản chất của chủ nghĩa xã hội mà chúng ta hướng tới. Đó cũng chính là động lực thúc đẩy xã hội phát triển. Đó là một giá trị xã hội .

– Đến Đại hội IX (2001), sau 15 năm đổi mới, Đảng ta bổ sung một mục tiêu đặc biệt quan trọng là dân chủ : “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ , văn minh”. Vấn đề dân chủ đặt trong hệ mục tiêu của đổi mới là một phát triển quan trọng về nhận thức lý luận của Đảng về chủ nghĩa xã hội. Dân chủ là mục tiêu, động lực của đổi mới, của phát triển, của chủ nghĩa xã hội.

Đến đây, về cơ bản, Đảng ta đã nhận thức đầy đủ hệ giá trị mục tiêu của đổi mới.

– Đại hội X (2006), khi tổng kết 20 năm đổi mới, Đảng ta đã xác định hệ mục tiêu của đổi mới là đặc trưng tổng quát của chủ nghĩa xã hội Việt Nam : “Xã hội xã hội chủ nghĩa mà Đảng, Nhà nước và nhân dân ta xây dựng là một xã hội dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh…” [1] .

– Đại hội XI (2011), tổng kết 20 năm thực hiện Cương lĩnh 1991 (1991 – 2011) và thông qua Cương lĩnh bổ sung, phát triển năm 2011, hệ mục tiêu đổi mới vẫn được coi là đặc trưng tổng quát, là đặc trưng đầu tiên trong số các đặc trưng xã hội xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Song Đảng ta có điều chỉnh về trật tự các mục tiêu. Lần này, sau mục tiêu “dân giàu, nước mạnh”, Đảng ta nói ngay tới “dân chủ”, đặt dân chủ trước công bằng, văn minh. “Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội: “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

2. Về các đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa Việt Nam – những phát triển nhận thức lý luận về chủ nghĩa xã hội 

– Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, năm 1991 được Đại hội VII thông qua đã xác định sáu đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa Việt Nam .

Trong sáu đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Đảng đã xác định bản chất của chế độ, đó là nhân dân lao động làm chủ ; đã nêu rõ những nội dung kinh tế, chính trị, văn hóa, quan hệ xã hội (giai cấp và dân tộc), nhấn mạnh mục tiêu phát triển con người, quan hệ giữa phát triển cá nhân với phát triển cộng đồng, vai trò lãnh đạo của Đảng, quan hệ giữa nước ta với cộng đồng thế giới… Trong các đặc trưng đó, trong Cương lĩnh 1991, Đảng ta đã nhấn mạnh mục tiêu xây dựng một nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất phát triển hiện đại và xây dựng quan hệ sản xuất tiên tiến với chế độ công hữu về các tư liệu sản xuất chủ yếu. Điều đó phù hợp với bản chất của chủ nghĩa xã hội và thể hiện được bước đầu những nhận thức mới về xây dựng chủ nghĩa xã hội trong đổi mới.

– Sau Đại hội VII, ở các nhiệm kỳ đại hội tiếp theo (VIII, IX, X, XI), đặc biệt là Đại hội X và XI, trên cơ sở thực tiễn đổi mới của đất nước, sự phát triển của kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, Đảng ta đã từng bước có những bổ sung quan trọng, nhất là trong quá trình tổng kết 20 năm thực hiện Cương lĩnh để có những phát triển mới về lý luận. Có những điểm bổ sung và phát triển quan trọng sau đây:

Thứ nhất , bổ sung đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa có “Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo”. Tư tưởng về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam được hình thành và khẳng định từ sau Đại hội VII, nhất là từ Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII của Đảng (tháng 01/1994). Đặc trưng về xây dựng Nhà nước pháp quyền đã làm rõ hơn nội dung chính trị, tức là phương diện chính trị, thể chế chính trị của chủ nghĩa xã hội trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường và đẩy mạnh dân chủ hóa. Nhà nước pháp quyền do Đảng Cộng sản lãnh đạo là rường cột của hệ thống chính trị ở nước ta, là tác nhân chính trị trực tiếp để xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, thực hiện và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, thể hiện sức mạnh của quyền lực nhân dân.

Thứ hai , từ Đại hội X (2006) và Đại hội XI (2011), Đảng ta xác định tám đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa Việt Nam . Đặc trưng được bổ sung mới chính là hệ mục tiêu của đổi mới, được xem là đặc trưng tổng quát về chủ nghĩa xã hội. Nó có ý nghĩa là nhận thức chung về chủ nghĩa xã hội , là câu trả lời trực tiếp cho câu hỏi : Chủ nghĩa xã hội là gì? Xã hội xã hội chủ nghĩa mà chúng ta xây dựng là một xã hội như thế nào?

Đại hội X nêu: “Xã hội xã hội chủ nghĩa mà Đảng, Nhà nước và nhân dân ta xây dựng là một xã hội dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh…” [2] .

Đại hội XI nhấn mạnh dân chủ , đặt dân chủ lên trước công bằng, văn minh; dân chủ không chỉ là một thuộc tính, một giá trị xã hội có vai trò mục tiêu và động lực phát triển của chủ nghĩa xã hội mà còn là điều kiện để thực hiện công bằng, văn minh trong chủ nghĩa xã hội. “Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh…” [3] .

Thứ ba , trước đây, chúng ta quan niệm và khẳng định, xã hội xã hội chủ nghĩa là một xã hội do nhân dân lao động làm chủ. Từ Đại hội X và XI, Văn kiện Đảng và Cương lĩnh Đảng nêu “ nhân dân làm chủ ”. Đây là một sự cân nhắc thực tế, khi đất nước đã đi vào đổi mới 20, 25 năm, đã phát triển mạnh mẽ kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, coi đó là mô hình kinh tế tổng quát trong thời kỳ quá độ ở nước ta , khi Đảng đã có đường lối chủ trương đối ngoại hòa bình, hữu nghị, hợp tác và chủ động hội nhập quốc tế. Nói “nhân dân làm chủ”, điều đó không hề xa rời định hướng xã hội chủ nghĩa hay từ bỏ quan điểm giai cấp như một số ý kiến nêu ra.

Thứ tư, đặc trưng xã hội xã hội chủ nghĩa về kinh tế , Đảng ta đã xác định, “… có nền kinh tế phát triển cao, dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất” [4] .

Thứ năm , chung quanh đặc trưng về quan hệ dân tộc , trong các Văn kiện trước đây, kể cả Văn kiện Đại hội X đều chỉ ghi: “… các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tương trợ, giúp nhau cùng tiến bộ” [5] .

Đến Đại hội XI, đã có một bổ sung quan trọng, nhấn mạnh rằng các quan hệ dân tộc (đa số – thiểu số) dựa trên sự “tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển” [6] . Đây là một điểm nhấn đảm bảo giải quyết đúng đắn quan hệ dân tộc, chính sách dân tộc trong một nước có kết cấu đa dân tộc – tộc người như nước ta.

Đó là những điều bổ sung, điều chỉnh, phát triển nhận thức lý luận của Đảng ta về chủ nghĩa xã hội, từ Đại hội VII đến Đại hội XI, từ Cương lĩnh 1991 đến Cương lĩnh 2011.

Tóm lại, hệ thống các đặc trưng xã hội xã hội chủ nghĩa Việt Nam được thể hiện đầy đủ, rõ ràng nhất tại Đại hội XI, trong Cương lĩnh bổ sung, phát triển năm 2011, với tám đặc trưng sau đây :

“Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội : Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới” [7] .

3. Về phương hướng xây dựng chủ nghĩa xã hội

Đại hội XI, thông qua Cương lĩnh bổ sung, phát triển năm 2011 đã nêu lên tám phương hướng cơ bản sau đây:

“Một là, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức, bảo vệ tài nguyên, môi trường.
Hai là, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Ba là, xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; xây dựng con người, nâng cao đời sống nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội.

Bốn là, bảo đảm vững chắc quốc phòng và an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội.

Năm là, thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế.

Sáu là, xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc, tăng cường và mở rộng mặt trận dân tộc thống nhất.

Bảy là, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.

Tám là, xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh” [8] .

Tám phương hướng nêu trên phản ánh nội dung toàn diện các lĩnh vực xây dựng và phát triển đất nước theo mục tiêu phát triển bền vững , không chỉ là kinh tế – xã hội – môi trường mà còn phải chú trọng phát triển văn hóa, con người và bảo đảm sự ổn định, củng cố vững chắc chế độ chính trị với Nhà nước pháp quyền, nền dân chủ, vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng. Do đó, phải nhấn mạnh tầm quan trọng của việc xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân, có tiềm lực mạnh về quốc phòng, an ninh quốc gia để xây dựng chủ nghĩa xã hội gắn liền bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

Tám phương hướng nêu trên đã bao quát những điểm căn bản, chủ yếu trong đường lối, chính sách đối nội và đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta, thể hiện sự nhất quán của Đảng với các quan điểm đổi mới và phát triển . Tám phương hướng đó cũng chính là con đường đi lên chủ nghĩa xã hội , là mô hình xây dựng chủ nghĩa xã hội trong thực tiễn của nước ta.

Trong tám phương hướng đó, Đảng ta đặt ở hàng đầu vấn đề đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức, bảo vệ tài nguyên môi trường bởi lẽ đây là vấn đề cấp thiết nhất hiện nay, giải quyết nhiệm vụ xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội. Đó là đòi hỏi tất yếu, do nước ta quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa. Không đẩy mạnh công nghiệp hóa không thể thực hiện bước chuyển đưa nước ta từ một nước nông nghiệp lạc hậu thành một nước công nghiệp, không thể có nền kinh tế phát triển cao với năng suất lao động cao dựa trên khoa học – công nghệ, không thể có lực lượng sản xuất hiện đại. Cái mới trong sự phát triển nhận thức lý luận của Đảng ta về phương hướng xây dựng chủ nghĩa xã hội là: đẩy mạnh công nghiệp hóa là để đạt tới hiện đại hóa , muốn vậy phải chủ động chuẩn bị các điều kiện để phát triển kinh tế tri thức, đặc biệt chú trọng bảo vệ tài nguyên, môi trường, vừa tiết kiệm và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên vừa bảo vệ được môi trường, phòng tránh thảm họa môi trường và biến đổi khí hậu, nước biển dâng – một vấn đề toàn cầu mà Việt Nam không thể xem thường.

Nhân tố quan trọng hàng đầu, có ý nghĩa quyết định mọi thắng lợi là ở sự lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt của Đảng. Đây là bài học lớn đã được tổng kết và được kiểm nghiệm trong thực tiễn. Do đó, phải ra sức xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu và bản lĩnh cầm quyền của Đảng.

4. Về các mối quan hệ lớn cần nhận thức đúng và giải quyết tốt trong thực tiễn đổi mới 

Trong nhận thức lý luận cũng như trong hoạt động thực tiễn, có hàng loạt các mối quan hệ và liên hệ đan xen nhau rất phức tạp trong các lĩnh vực của đời sống đòi hỏi các chủ thể phải nhận biết và xử lý. Đảng ta khi khởi xướng và lãnh đạo đường lối đổi mới đã nhấn mạnh phải đổi mới toàn diện, triệt để, đồng bộ và có nguyên tắc, đồng thời phải có bước đi thích hợp. Tổng kết 20 năm thực hiện Cương lĩnh, lần đầu tiên , Đảng ta đặt vấn đề phải nghiên cứu các mối quan hệ lớn gắn với tổng kết việc thực hiện các mối quan hệ đó trong thực tiễn , từ đó có những điều chỉnh cần thiết trong các chủ trương, chính sách, biện pháp và cơ chế quản lý, điều hành, bảo đảm cho công cuộc đổi mới đi đúng định hướng và thực hiện được mục tiêu phát triển bền vững. Đây là một trong những vấn đề lý luận lớn của đổi mới, của xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta, phản ánh những tính quy luật trong phát triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Trong Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011), Đảng ta đã khái quát tám mối quan hệ lớn sau đây:

– Quan hệ giữa đổi mới, ổn định và phát triển;

– Giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị;

– Giữa kinh tế thị trường và định hướng xã hội chủ nghĩa;

– Giữa phát triển lực lượng sản xuất và xây dựng, hoàn thiện từng bước quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa;

– Giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội;

– Giữa xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa;

– Giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế;

– Giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ [9] .

Để nhận thức đúng và xử lý tốt các mối quan hệ đó, Đảng ta nêu rõ nguyên tắc và phương châm, phải xuất phát từ thực tiễn, bám sát thực tiễn đất nước, chú trọng nghiên cứu dự báo xu hướng phát triển của đất nước và thế giới, những diễn biến của khu vực, quốc tế tác động tới nước ta trên cả hai mặt thuận lợi và khó khăn, tích cực và tiêu cực để đón kịp, tận dụng thời cơ, chủ động vượt qua thách thức và nguy cơ, tôn trọng quy luật khách quan, “không phiến diện, cực đoan, duy ý chí” [10] .

Qua thực tiễn đổi mới chúng ta cũng nhận thấy, việc giải quyết các mối quan hệ lớn cũng cần có điều chỉnh và bổ sung .

Mối quan hệ giữa kinh tế thị trường và định hướng xã hội chủ nghĩa cần điều chỉnh thành quan hệ “giữa tuân thủ các quy luật thị trường và bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa” và bổ sung mối quan hệ “giữa Nhà nước và thị trường” [11] .

II. Tiếp tục làm rõ những nhận thức về chủ nghĩa xã hội 

1. Xác định chặng đường, bước đi trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta 

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội bổ sung, phát triển năm 2011 được Đại hội XI thông qua, sau khi xác định các đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa mà Đảng và nhân dân ta xây dựng đã đề cập quan niệm tổng quát của Đảng ta về thời kỳ quá độ, trong đó nhấn mạnh: Thời kỳ quá độ là một thời kỳ lâu dài với nhiều bước phát triển, nhiều hình thức tổ chức kinh tế, xã hội đan xen.

Chúng ta cần tập trung nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn những vấn đề sau đây:

– Quá độ lên chủ nghĩa xã hội và thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta.

– Nhận thức về đặc điểm của nước ta khi quá độ lên chủ nghĩa xã hội, mối tương quan giữa thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội với định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

Xã hội trong thời kỳ quá độ, trong sự “định hướng xã hội chủ nghĩa” phải chăng là một xã hội quá độ, chuyển đổi, chuyển tiếp , đang đan xen vào nhau rất phức tạp giữa cái mới và cái cũ?

Trong “thời kỳ quá độ” cũng bao hàm những bước chuyển quá độ, quá độ từ đâu đến đâu ? Sự vận động từ khả năng, xu hướng đến hiện thực và được mô hình hóa như thế nào?

Phải chăng thời kỳ quá độ là thời kỳ thực hiện những định hướng xã hội chủ nghĩa để từng bước định hình chủ nghĩa xã hội , đạt được mục tiêu tổng quát và những mục tiêu cụ thể mà Cương lĩnh của Đảng đã xác định? Đó là những câu hỏi cần tập trung nghiên cứu, những giả thuyết cần thông qua nghiên cứu – tổng kết để làm sáng tỏ.

– Những chặng đường, bước đi của thời kỳ quá độ với những chiến lược phát triển kinh tế – xã hội, chiến lược công nghiệp hóa, hiện đại hóa, chiến lược con người và văn hóa – mối quan hệ.

Thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là một thời kỳ lịch sử, một quá trình lịch sử rất lâu dài , sẽ bao gồm nhiều giai đoạn, nhiều bước đi kế tiếp nhau.

Phân tích lý luận về thời kỳ quá độ, nhất là lý luận phân kỳ sẽ chú trọng phân tích định tính hơn là phân tích định lượng , tìm ra những dấu hiệu thuộc tính bản chất từ hạ tầng cơ sở đến thượng tầng kiến trúc của xã hội trong thời kỳ quá độ như Đảng ta xác định mục tiêu tổng quát và mục tiêu cụ thể trong Cương lĩnh, xác định những tiêu chí đánh giá như xác định những tiêu chí của một nước công nghiệp chẳng hạn .

Đây là một trong những nội dung quan trọng cần phải nghiên cứu – tổng kết từ thực tiễn công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta. Chỉ có thực tiễn xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ mới có thể đem lại câu trả lời xác thực, không được áp đặt cho thực tiễn những lược đồ chủ quan tư biện, lấy mong muốn thay cho hiện thực.

Ý nghĩa thực tiễn, hệ quả thực tiễn của lý luận về quá độ lên chủ nghĩa xã hội và lý luận phân kỳ thời kỳ quá độ rất to lớn và hệ trọng. Vấn đề đặt ra là, phải tìm đúng những giải pháp, những chính sách và cơ chế tác động vào xã hội đang ở trong thời kỳ quá độ để thúc đẩy sự phát triển hợp lý, đúng quy luật, những giải pháp, chính sách và cơ chế này phải phù hợp với chủ nghĩa xã hội đang còn là định hướng chứ không phải chủ nghĩa xã hội đã trưởng thành, đã định hình .

2. Xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa 

Chuyển sang kinh tế thị trường trong xây dựng và phát triển kinh tế là một bước ngoặt trong đổi mới tư duy kinh tế, trong thay đổi mô hình phát triển xã hội của Đảng ta thời kỳ đổi mới suốt 30 năm qua.

Cần tập trung nghiên cứu vào những điểm sau đây:

– Làm rõ những nội dung định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo đảm định hướng chính trị xã hội chủ nghĩa của phát triển kinh tế thị trường ở nước ta.

– Phát triển bền vững, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia trong hội nhập quốc tế.

– Phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa gắn liền với phát triển kinh tế tri thức, bảo vệ tài nguyên, môi trường trong chiến lược đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

3. Mô hình và phương thức quản lý phát triển xã hội 

Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận – thực tiễn qua 30 năm đổi mới của Ban chỉ đạo tổng kết Trung ương nêu rõ: “Đây là vấn đề chưa được quan tâm nghiên cứu đầy đủ, thấu đáo, trong khi các vấn đề xã hội ngày càng nổi lên, nảy sinh nhiều vấn đề bức xúc, gây nguy cơ mất ổn định xã hội”… [12] .

Xác định những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu tổng kết, báo cáo đã chỉ ra: “… cần nghiên cứu làm rõ mô hình xã hội nước ta bảo đảm sự đồng thuận, bền vững, văn minh. Cần nghiên cứu sự biến đổi xã hội, cơ cấu xã hội, phân tầng xã hội. Nghiên cứu xác định rõ hơn vai trò của đội ngũ doanh nhân và các nhóm xã hội để đổi mới chính sách phù hợp. Nghiên cứu thể chế, thiết chế quản lý phát triển xã hội” [13] .

Cần tập trung nghiên cứu tổng kết trên những vấn đề sau đây:

– Mô hình xã hội.

– Sự biến đổi cơ cấu xã hội, phân tầng xã hội.

– Nghiên cứu làm rõ vai trò của đội ngũ doanh nhân và các nhóm xã hội, để đổi mới chính sách cho phù hợp.

4. Đổi mới đồng bộ, phù hợp giữa kinh tế và chính trị 

Đổi mới càng đi vào chiều sâu, trên quy mô rộng lớn thì càng phải chú trọng đẩy mạnh đổi mới đồng bộ, phù hợp kinh tế và chính trị.

Quan hệ giữa đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị là một trong tám mối quan hệ lớn cần được nhận thức đúng và xử lý tốt để thúc đẩy đổi mới và phát triển ở nước ta như Đảng ta đã nêu trong Cương lĩnh bổ sung, phát triển năm 2011.

Nhờ nỗ lực đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị trong 30 năm qua mà chúng ta đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử.

Thành tựu còn có thể to lớn hơn nữa, đất nước có thể phát triển nhanh và bền vững hơn nữa nếu chúng ta nhận thức đầy đủ, thấu đáo và giải quyết tốt hơn cả về mặt lý luận lẫn thực tiễn mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị, theo đúng yêu cầu đổi mới đồng bộ, phù hợp hai lĩnh vực trọng yếu này của đời sống xã hội.

Đây cũng chính là yêu cầu quan trọng và đòi hỏi bức thiết hiện nay đang đặt ra đối với Đảng và Nhân dân ta.

Để tiếp tục đổi mới đồng bộ, phù hợp giữa kinh tế và chính trị cần tập trung nghiên cứu – tổng kết những vấn đề sau đây nhằm phát triển lý luận đổi mới theo con đường xã hội chủ nghĩa.

– Mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị, giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị từ yêu cầu phát triển bền vững và hiện đại hóa đất nước.

– Nghiên cứu tính đồng bộ, phù hợp giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị trong thời kỳ mới, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và chủ động, tích cực hội nhập quốc tế.

– Vấn đề thực thi pháp luật và bảo đảm đạo đức trong hoạt động kinh tế và chính trị.

5. Xây dựng hệ giá trị văn hóa và con người Việt Nam 

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) đã nêu bật những quan điểm tư tưởng về xây dựng văn hóa và con người Việt Nam.

Xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, phát triển toàn diện, thống nhất trong đa dạng, thấm nhuần sâu sắc tinh thần nhân văn, dân chủ, tiến bộ, làm cho văn hóa gắn kết chặt chẽ và thấm sâu vào toàn bộ đời sống xã hội, trở thành nền tảng tinh thần vững chắc, sức mạnh nội sinh quan trọng của phát triển [14] .

Nghị quyết Trung ương 9, khóa XI đã nêu rõ quan hệ khăng khít giữa phát triển văn hóa với xây dựng, phát triển con người, hoàn thiện nhân cách, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững. Nghị quyết xác định bốn đặc trưng cơ bản của nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc sắc dân tộc, đó là: Dân tộc – Nhân văn – Dân chủ và Khoa học, phải đặt văn hóa ngang hàng với kinh tế và chính trị, làm cho văn hóa thâm nhập vào mọi lĩnh vực của đời sống.

– Hệ giá trị văn hóa Việt Nam trong đổi mới, hội nhập để phát triển và hiện đại hóa.

– Trên cơ sở nghiên cứu hệ giá trị văn hóa, cần đi sâu tìm hiểu hệ giá trị của con người Việt Nam trên các khía cạnh cơ bản.

– Cần tiếp tục nghiên cứu làm rõ mối quan hệ biện chứng giữa văn hóa – con người.

6. Đảng cầm quyền – lý luận và thực tiễn xây dựng, chỉnh đốn và đổi mới Đảng để nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu và bản lĩnh cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam 

Vấn đề Đảng lãnh đạo và cầm quyền, xây dựng – chỉnh đốn và đổi mới Đảng để không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu cũng như bản lĩnh cầm quyền của Đảng, làm cho Đảng ngang tầm nhiệm vụ là vấn đề then chốt, hệ trọng nhất của lý luận đổi mới, đặc biệt là đổi mới chính trị ở nước ta .

Để Đảng ngang tầm nhiệm vụ, xứng đáng là Đảng cách mạng chân chính, trong sạch vững mạnh, “là đạo đức, là văn minh” (Hồ Chí Minh), xứng đáng với sự tin cậy, ủy thác của nhân dân, cần phải tập trung nghiên cứu – tổng kết và thực hiện những vấn đề sau đây.

– Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo và cầm quyền.

– Khái quát thực tiễn lịch sử lãnh đạo và cầm quyền của các Đảng Cộng sản trong chủ nghĩa xã hội hiện thực.

– Lãnh đạo và cầm quyền của đảng chính trị trong chính trị học, trong đời sống chính trị thế giới – từ thực tiễn các nước tư bản chủ nghĩa, từ mô hình chính thể tư sản.

– Đổi mới nhận thức, mô hình tổ chức, nội dung, phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng đáp ứng yêu cầu mới, tình hình, nhiệm vụ mới.

– Kết hợp giữa xây dựng, chỉnh đốn, đổi mới Đảng thường xuyên, lâu dài với nội dung toàn diện, với phương thức dựa trực tiếp vào dân để xây dựng Đảng (chính trị, tư tưởng, tổ chức, đạo đức, lối sống, văn hóa…) với tập trung thực hiện những việc cần làm ngay trong nội bộ Đảng.

7. Hệ động lực của đổi mới và phát triển ở nước ta 

Động lực chính là những nhân tố thúc đẩy phát triển. Đó là lực đẩy, có sức mạnh vượt qua các lực cản, các rào cản, vượt qua những sức ỳ, những sự trì trệ, tạo ra sự năng động, sinh khí mới của phát triển.

Để đổi mới và phát triển, hướng tới phát triển bền vững và hiện đại hóa đất nước trong tiến trình hội nhập quốc tế sâu rộng, cần phải phát hiện đúng các nhân tố động lực, kích hoạt các động lực đó thông qua những cơ chế, chính sách, giải pháp tác động vào con người và xã hội, làm thay đổi trạng thái của phát triển, đạt tới những mục tiêu của phát triển.

Động lực phát triển không phải là một, là duy nhất mà là một hệ thống, bao gồm nhiều động lực, cả vật chất lẫn tinh thần, trong kinh tế, chính trị và văn hóa, trong các giá trị truyền thống đã kết tinh thành di sản, trong các giá trị mới sinh thành trong đổi mới và phát triển.

Nghiên cứu về động lực và hệ động lực của đổi mới và phát triển, nhất là tìm đúng các giải pháp, biện pháp để khai thác động lực, phát huy vai trò các động lực, nuôi dưỡng các động lực đó nhằm thúc đẩy mọi hoạt động hướng vào tiến bộ phát triển là một hướng nghiên cứu lý luận của đổi mới, góp phần phát triển lý luận đổi mới của Việt Nam.

Cần tập trung nghiên cứu lý luận – tổng kết thực tiễn các vấn đề về động lực sau đây:

– Động lực và hệ động lực của phát triển xã hội.

– Phân loại động lực, nhận biết các loại hình động lực.

– Hệ thống động lực của đổi mới và phát triển ở nước ta hiện nay.

8. Tiếp tục nhận thức và giải quyết tốt các mối quan hệ lớn trong đổi mới và phát triển 

– Tạo chuyển biến thực sự mạnh mẽ về nhận thức đối với các quan hệ, về liên hệ hữu cơ, nội tại của các quan hệ ; chú trọng tính toàn diện, cân đối, song cũng không tách biệt riêng rẽ, xem nhẹ một mối quan hệ nào. Cần phải đi sâu vào nhận thức bản chất của quan hệ, với quan điểm phức hợp, với tư duy hệ thống, chú trọng liên kết các quan điểm, các quan hệ trong hệ thống mà cốt lõi là giữ vững độc lập tự chủ của dân tộc, chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ của quốc gia .

– Coi trọng và đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu lý luận, tổng kết lý luận – thực tiễn, thực sự giải phóng tư tưởng, khuyến khích tự do sáng tạo, lấy đó làm động lực để đột phá lý luận về đổi mới, về chủ nghĩa xã hội nói chung cũng như lý luận quản lý xã hội, lý luận phát triển trong từng lĩnh vực, quy tụ ở lý luận phát triển văn hóa và con người Việt Nam.

– Nỗ lực đổi mới chính trị thực sự có hiệu quả, có tác dụng tích cực thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội – văn hóa – môi trường cũng như quốc phòng – an ninh – đối ngoại.

– Có chiến lược và sách lược đúng đắn, linh hoạt trong quan hệ quốc tế, trong đường lối đối ngoại của Đảng, chính sách ngoại giao song phương, đa phương của Nhà nước.

PGS.TS Nguyễn Viết Thông
Tổng Thư ký Hội đồng Lý luận Trung ương

[1] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X , Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 2006, tr.17-18.

[2] Đảng Cộng sản Việt Nam : Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X , Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr.17-18.

[3] Đảng Cộng sản Việt Nam : Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X , Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr.70.

[4] Đảng Cộng sản Việt Nam : Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X , Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr.18.

[5] Đảng Cộng sản Việt Nam : Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X , Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr.18.

[6] Đảng Cộng sản Việt Nam : Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia. Hà Nội, 2011, tr.70.

[7] Đảng Cộng sản Việt Nam : Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.69-70.

[8] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.72.

[9] Xem: Đảng Cộng sản Việt Nam : Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.72-73.

[10] Đảng Cộng sản Việt Nam : Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI , Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr. 73.

[11] Đảng Cộng sản Việt Nam – Ban Chỉ đạo tổng kết : Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận – thực tiễn qua 30 năm đổi mới (1986-2016), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 2015, tr.214.

[12] Ban Chỉ đạo tổng kết : Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận – thực tiễn qua 30 năm đổi mới (1986 – 2016) , Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2015, tr.211-220.

[13] Ban Chỉ đạo tổng kết Trung ương: Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận – thực tiễn qua 30 năm đổi mới (1986 – 2016) , Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2015, tr.211-220.

[14] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.75-76.