Bạn đang tại:--Những biến động chính trị – xã hội với vấn đề dân tộc của thế giới hiện nay (*)

Những biến động chính trị – xã hội với vấn đề dân tộc của thế giới hiện nay (*)

Chiến tranh lạnh đã tồn tại nhiều thập niên với sự đối đầu ý thức hệ, đấu tranh giai cấp theo lý luận truyền thống. Sự tồn tại của các dân tộc – quốc gia trong các khối, các liên minh dựa trên nền tảng lý thuyết đó. Các mối quan hệ dân tộc (bao gồm dân tộc – tộc người và dân tộc – quốc gia), quan hệ quốc tế tác động qua lại, ảnh hưởng lẫn nhau cùng diễn ra trong bối cảnh lịch sử đó. Vấn đề lợi ích trong quan hệ dân tộc đa chiều là cái cốt lõi trong quan hệ dân tộc, nó được đặt ra và giải quyết theo hướng cái bộ phận phục vụ cái toàn bộ, cái thiểu số phục tùng cái đa số, nguyên tắc bình đẳng dân tộc gặp phải những thử thách nặng nề trong suốt thời gian dài.

Những biến động chính trị – xã hội đã và đang diễn ra liên quan đến vấn đề dân tộc

Thời kỳ Chiến tranh lạnh đã để lại cho các dân tộc những bài học lịch sử rất đáng nghiên cứu và tổng kết để tìm tòi con đường tồn tại và phát triển dân tộc phù hợp với điều kiện mới. Cơn biến động mang tính bước ngoặt của lịch sử thế giới trong thế kỷ XX đã tạo nên sự đảo lộn có quy mô toàn cầu trong mấy thập niên qua. Quan sát một cách khách quan cho thấy, nổi bật lên vẫn là xu thế biến đổi rất đa dạng trong các mối quan hệ dân tộc theo nghĩa đầy đủ của nó, gồm có:

– Quan hệ giữa dân tộc – tộc người với dân tộc – quốc gia, thực chất là quan hệ giữa bộ phận và toàn bộ.

– Quan hệ giữa các dân tộc – quốc gia ở các châu lục và vùng lãnh thổ.

– Quan hệ giữa nội bộ các dân tộc – tộc người.

Những biến động liên quan trực tiếp đến vấn đề dân tộc và mối quan hệ dân tộc diễn ra liên tục và tương đối rộng khắp. Các nghiên cứu về quan hệ dân tộc đã cho thấy nổi lên những đặc điểm chính sau đây:

Một là, các biến động chính trị – xã hội diễn ra ngay tại những nơi mà người ta tin tưởng vững chắc vào sức mạnh cố kết dân tộc, vào thành công của việc giải quyết vấn đề lợi ích dân tộc trong một quốc gia từng được coi là “đại gia đình các dân tộc”. Đó là sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa mô hình Xô-viết ở Liên Xô, là sự sụp đổ bức tường Béc-lin và thống nhất hai nhà nước Đức, là sự chia tách nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Tiệp Khắc, là sự tan vỡ và xung đột gay gắt giữa các tộc người ở Liên bang Nam Tư… Nếu như người ta coi “chế độ Sa hoàng là nhà tù của các dân tộc”, thì sau Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917, nhà nước xã hội chủ nghĩa ra đời, bắt đầu một giai đoạn mới với Cương lĩnh dân tộc của V.I. Lê-nin, tạo nên khối đoàn kết dân tộc ở Liên Xô “như keo sơn chung một khối” (lời của Quốc ca Liên Xô), nhờ vậy mà nhân dân Liên Xô đã chiến thắng phát-xít Đức trong đại chiến thế giới thứ hai, bảo vệ Tổ quốc Liên Xô và cứu nhân loại khỏi họa diệt chủng phát-xít. Bài học về sự tan rã đến bất ngờ của khối đoàn kết dân tộc ở Liên Xô có một nguyên nhân quan trọng bắt nguồn từ sai lầm trong lý luận về đường lối dân tộc của nước này, cần được tiếp tục nghiên cứu.

Trong các nước tư bản chủ nghĩa, những năm qua mâu thuẫn dân tộc cũng nổi lên gay gắt ở những nơi cho rằng lâu nay vấn đề dân tộc đã được giải quyết, như ở Xứ Uên, Bắc Ai-len (Anh), Đảo Coóc (Pháp), vùng Ba-xcơ (Tây Ban Nha), vùng Kê-bếch (Ca-na-đa), Trung Đông (I-rắc, Xy-ri), kể cả Hợp chúng quốc Hoa Kỳ.

Hai là, các sự biến động chính trị – xã hội liên quan đến dân tộc và xử lý quan hệ dân tộc diễn ra trên diện rộng ở mọi nơi, mọi lúc, không phân biệt thời gian và không gian, chế độ chính trị – xã hội, trình độ phát triển khác nhau, từ các nước phát triển đến những nước đang phát triển. Sự phát triển không đồng đều là căn nguyên tạo nên sự phân hóa trên thế giới, gây sức ép và sự xáo trộn ở nhiều quốc gia. Làn sóng di cư tự do gây hậu quả xấu cho cả hai phía, cả nước phát triển lẫn nước đang phát triển, khoét sâu thêm mâu thuẫn dân tộc của các quốc gia này. Xung đột dân tộc ở một số nước trong thế giới thứ ba đã cướp đi sinh mạng hàng triệu người, đẩy các quốc gia này vào tình trạng đói nghèo, bất ổn xã hội, bệnh tật, lạc hậu, nợ nần chồng chất và ngày càng phụ thuộc vào nước ngoài, tạo điều kiện cho các thế lực dân tộc cực đoan trỗi dậy gây tai họa cho nhân dân.

Ba là, các biến động chính trị – xã hội liên quan đến dân tộc và xử lý quan hệ dân tộc thể hiện tính chất khốc liệt và mức độ gay gắt ngày càng gia tăng và gây hậu quả ngày càng nghiêm trọng. Nhiều cuộc nội chiến đã diễn ra với cảnh “nồi da nấu thịt”, “huynh đệ tương tàn” và để lại những hậu quả xã hội nặng nề, những hố sâu ngăn cách trong xã hội cho nhiều thế hệ.

Những biến động chính trị – xã hội của thế giới đã đem lại cho các quốc gia nhiều bài học lịch sử có ý nghĩa sống còn về giải quyết các vấn đề dân tộc, đó là:

– Chưa có nước nào dù chế độ chính trị ra sao mà không có nguy cơ tồn tại những vấn đề dân tộc cần xử lý, nếu xã hội không quan tâm đầy đủ vấn đề dân tộc. Không thể bằng lòng với những gì đã đạt được mà không bám sát thực tế để phát hiện những mâu thuẫn mới nảy sinh trong quan hệ dân tộc để kịp thời xử lý.

– Mọi biến động chính trị – xã hội của thế giới đương đại đều liên quan đến vấn đề dân tộc, xét đến cùng đều do các mối quan hệ dân tộc chưa được xử lý thỏa đáng và hài hòa theo nghĩa đầy đủ của mối quan hệ này. Xử lý quan hệ dân tộc phải theo quan điểm toàn diện, bao gồm các lĩnh vực kinh tế, xã hội, chính trị, văn hóa, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, trong đó đặc biệt chú ý lĩnh vực văn hóa và tâm lý, ý thức dân tộc.

– Vấn đề dân tộc và phương thức xử lý mối quan hệ dân tộc là những vấn đề đặc thù. Mọi sự giản đơn, chủ quan duy ý chí, áp đặt trong quan điểm lý luận đường lối và phương thức xử lý quan hệ dân tộc đều có thể dẫn tới những hậu quả khôn lường, thậm chí làm tiêu vong cả một sự nghiệp, một chế độ xã hội, một đảng chính trị cầm quyền, làm tan rã cả một quốc gia mà không thể nào cứu vãn nổi.

– Vấn đề dân tộc và mối quan hệ dân tộc tồn tại lâu dài một cách khách quan và có xu hướng vận động khách quan riêng của nó. Tôn trọng xu hướng này là một tất yếu trong giải quyết vấn đề dân tộc. Các thể chế cầm quyền cần và có thể tác động đến xu hướng vận động của dân tộc bằng các phương thức thích hợp với đặc điểm dân tộc thay vì chỉ dùng biện pháp quyền lực, trong đó đặc biệt là yếu tố con người.

Đặc điểm các xu thế vận động của vấn đề dân tộc trong thế giới đương đại

So với thời kỳ Chiến tranh lạnh, xu thế vận động của vấn đề dân tộc có những đặc điểm nổi lên sau đây:

Thứ nhất, vấn đề dân tộc ngày càng trở nên vừa cơ bản, vừa cấp bách về quy mô, tính chất, mức độ và hình thức khác nhau của nhiều quốc gia ở mọi châu lục, trở thành mối quan tâm đặc biệt trong quản trị quốc gia của những nước này. Số lượng những quốc gia có vấn đề dân tộc luôn thay đổi theo xu hướng ngày càng tăng. Nhiều quốc gia đã giương cao ngọn cờ dân tộc để khơi dậy lòng yêu nước chân chính, tinh thần tự hào và tự tôn dân tộc, tập hợp đoàn kết toàn dân tiến hành cuộc đấu tranh chính nghĩa và giải phóng nhân dân, giành độc lập tự do cho dân tộc và giữ vững chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ. Mặt khác, lại có những thế lực lợi dụng vấn đề dân tộc, đề ra những trường phái dân tộc nước lớn, dân tộc cực đoan, dân tộc ly khai, chủ nghĩa bảo hộ, chủ nghĩa dân túy… nhằm phục vụ lợi ích của thiểu số, tạo nên những tình huống xung đột phức tạp về dân tộc.

Thứ hai, vấn đề nổi trội trong quan hệ dân tộc trên thế giới đương đại là vấn đề giải phóng dân tộc, giữ vững chủ quyền dân tộc và thực hiện thống nhất dân tộc về mọi mặt.

Trong quan hệ giữa các quốc gia ngày nay, tuy chế độ thực dân cũ đã cáo chung, nhưng chế độ thực dân mới với những biến tướng vô cùng phức tạp vẫn đang tồn tại, là công cụ để ràng buộc các nước yếu thế lệ thuộc vào các nước có thế lực hơn vì lợi ích của các nước này. Vì vậy thoát khỏi sự lệ thuộc để giải phóng dân tộc, giành quyền tự chủ vẫn là cuộc đấu tranh rất lâu dài, gian khổ để giành độc lập thực sự, thực hiện triệt để mục tiêu cuối cùng của sự nghiệp giải phóng dân tộc của nhiều quốc gia, nhất là các nước trong thế giới thứ ba.

Chủ quyền dân tộc và toàn vẹn lãnh thổ luôn là vấn đề phức tạp, nhất là giữ vững chủ quyền lãnh thổ toàn vẹn, bao gồm vùng đất, vùng trời, vùng biển và hải đảo. Chủ quyền dân tộc chẳng những chỉ là chủ quyền lãnh thổ mà còn bao gồm tính độc lập và chủ quyền về kinh tế, chính trị, xã hội, an ninh – quốc phòng, đối ngoại. Cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền dân tộc và toàn vẹn lãnh thổ trong điều kiện “hậu Chiến tranh lạnh” không những không giảm, mà còn vẫn tiếp diễn với nhiều nội dung và phương thức mới, thu hút nhân tài, vật lực của mỗi quốc gia và không tránh khỏi chịu ảnh hưởng của quan hệ giữa các nước lớn. Hơn lúc nào hết, khái niệm “độc lập, tự chủ” trong quan hệ dân tộc của thế giới đương đại lại cần được đặt ra và khẳng định với tư duy mới để xác định nội hàm, mục đích và phương thức thực hiện để cho cuộc đấu tranh này mang tính khoa học, chính trị và cả nghệ thuật nữa. Việc kết hợp các phương thức đấu tranh (chính trị, kinh tế, văn hóa, quân sự, ngoại giao) để giành độc lập, tự chủ là đặc điểm nổi lên trong quan hệ giữa các quốc gia dân tộc ngày nay. Do tác động của xu thế toàn cầu hóa ngày càng mở rộng, các quốc gia – dân tộc phải không ngừng lựa chọn linh hoạt các khả năng và điều kiện, lựa chọn chính sách trong quan hệ quốc tế để vừa hợp tác, vừa đấu tranh trong cùng tồn tại hòa bình mà vẫn giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, tạo tiền đề và điều kiện để bảo vệ chủ quyền quốc gia dân tộc. Chủ quyền quốc gia dân tộc là thiêng liêng và bất khả xâm phạm, lả nguyên tấc bất biến chứ không thể bị mang ra đổi chác, mưu cầu lợi ích riêng hoặc ban phát.

Vấn đề xây dựng và củng cố sự thống nhất trong đa dạng dân tộc của một quốc thổ toàn vẹn là mối quan tâm lớn trong vấn đề dân tộc của thế giới đương đại, nhằm ổn định xã hội, tạo tiền đề lớn nhất cho sự tồn tại và phát triển của quốc gia – dân tộc, phát triển kinh tế – xã hội, nâng cao đời sống nhân dân, củng cố an ninh, quốc phòng, giữ vững độc lập, chủ quyền quốc gia. Chỉ có thể xây dựng và phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc trên cơ sở một quốc gia thống nhất. Có những quốc gia dân tộc đang tiềm ẩn nguy cơ xung đột tộc người, ly khai dân tộc và chia cắt quốc thổ, do chưa giải quyết thỏa đáng vấn đề bình đẳng dân tộc, bao gồm quan hệ bình đẳng lợi ích giữa các dân tộc – tộc người trong điều kiện đa dân tộc, vấn đề người di cư, nhập cư và vấn đề công dân, quốc tịch…

Thống nhất dân tộc là vấn đề chung nhất đặt ra cho mọi quốc gia – dân tộc trong thế giới đương đại, nó phụ thuộc vào chủ thuyết và mô hình phát triển của mỗi quốc gia – dân tộc. Các con đường, mô hình phát triển của các nước trên thế giới không giống nhau, nhưng đều đang đặt ra nhiều vấn đề mới phải giải quyết. Chủ nghĩa xã hội theo mô hình Xô-viết trước đây đã không còn tồn tại, các nước đang theo con đường phát triển xã hội chủ nghĩa vẫn còn cần tiếp tục hoàn thiện lý thuyết về mô hình phát triển. Trong nhiều trường hợp, những hạn chế trong chính sách phát triển kinh tế – xã hội đã tạo nên sự chênh lệch và phân hóa xã hội, những sai lầm trong quản lý xã hội đã làm suy giảm lòng tin của nhân dân, tạo tiền đề cho xu hướng ly khai xuất hiện. Chủ nghĩa tư bản có lịch sử lâu dài, đã đóng góp cho loài người những thành tựu to lớn nhưng cũng đang đứng trước nhiều mâu thuẫn to lớn mà bản thân nó không thể giải quyết được. Để thống nhất dân tộc, loại trừ xung đột, chia rẽ, ly khai, mỗi quốc gia – dân tộc phải đưa ra được “mẫu số chung” và điểm tương đồng để quy tụ, đoàn kết toàn dân tộc, tập hợp được mọi tộc người có nền văn hóa riêng, kết hợp được lợi ích đa dân tộc đồng thời phải nỗ lực rất lớn khắc phục những trở ngại chủ quan và khách quan tác động đến khối đoàn kết dân tộc, kiên quyết loại trừ những âm mưu chia rẽ khối đoàn kết dân tộc bất kỳ đến từ đâu. Đây vẫn là vấn đề phức tạp trong lúc các nhóm lợi ích quốc tế và cả trong nước thường liên kết nhau, gây nhiều tác động, làm cho sự thống nhất dân tộc luôn luôn chịu thử thách.

Thứ ba, xử lý mối quan hệ giữa lợi ích dân tộc với toàn cầu hóa là vấn đề mấu chốt, thường trực trong quan hệ giữa các quốc gia – dân tộc. Toàn cầu hóa ra đời từ sớm, là thành tựu phát triển sức sản xuất của loài người. Theo kết quả của nhiều nghiên cứu gần đây, toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế đã có nhiều tác dụng tích cực, đó là: 1- Thúc đẩy nhanh và mạnh mẽ sự phát triển và xã hội hóa lực lượng sản xuất, đem lại sự tăng trưởng kinh tế ngày càng cao; 2- Truyền bá, chuyển giao trên quy mô ngày càng lớn những thành quả mới về khoa học và công nghệ, nhất là cuộc cách mạng công nghệ 4.0, kinh nghiệm tổ chức quản lý sản xuất, kinh doanh, thúc đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa; 3- Tạo ra nguồn lực phong phú để phát triển rút ngắn, nhất là cho các nước đang phát triển; 4- Thúc đẩy sự xích lại gần nhau giữa các dân tộc, tăng cường hiểu biết lẫn nhau, nâng cao dân trí và sự tự khẳng định vị trí của các quốc gia – dân tộc. Tuy nhiên, toàn cầu hóa cũng có những mặt tiêu cực và bất lợi, như: 1- Có thể làm tăng sự phân hóa xã hội, làm doãng khoảng cách giàu nghèo trong từng quốc gia – dân tộc và giữa các quốc gia – dân tộc; 2- Có thể gây mất ổn định, an toàn xã hội, tiềm ẩn sự bất trắc và nguy cơ khủng hoảng đột ngột với những dây chuyền tác hại khó lường trước; 3- Phần nào thu hẹp phạm vi, hiệu quả quyền lực nhà nước tập trung của quốc gia – dân tộc, ảnh hưởng đến nền tảng ổn định của các quốc gia và xuất hiện những vấn đề nhạy cảm. Nếu chính sách của nhà nước mắc sai lầm, khuyết điểm thì sẽ dẫn đến tranh chấp và xung đột quyền lực; 4- Đối với các nước đang phát triển, nó đặt ra nhiều sự may rủi lớn, nếu biết tận dụng cơ hội và có chính sách dân tộc đúng đắn và thực thi thành công, thì thu được nhiều thành quả to lớn nhờ toàn cầu hóa, nếu ngược lại thì sự thua thiệt cũng rất nặng nề, thậm chí đổ vỡ. Thông thường, trong quá trình vừa hợp tác, vừa đấu tranh, các nước đang phát triển thường ở vào thế yếu và lực mỏng so với các nước phát triển.

Vấn đề bảo vệ lợi ích dân tộc trong bối cảnh toàn cầu hóa với các yếu tố tích cực và tiêu cực như trên đòi hỏi phải có một sự tỉnh táo, linh hoạt và sắc bén trong đường lối dân tộc, giữ vững nguyên tắc bất biến là xuất phát từ lợi ích dân tộc, qua hội nhập quốc tế để bảo vệ và phục vụ lợi ích dân tộc. Điều đó khác về căn bản với việc cường điệu hóa lợi ích dân tộc, chỉ coi dân tộc mình là trên hết, trước hết, đạt mục đích lợi ích dân tộc mình bằng mọi giá, như vậy sẽ rơi vào chủ nghĩa dân tộc vị kỷ. Ngược lại, nếu vì hội nhập quốc tế mà làm tổn hại đến lợi ích dân tộc thì sẽ không còn gì để hội nhập quốc tế và sẽ rơi vào tình trạng bị nô dịch, phụ thuộc. Bản thân khái niệm toàn cầu hóa và bảo vệ lợi ích dân tộc luôn bao hàm quan hệ tương tác hai chiều, như Hồ Chí Minh đã nêu trong Di chúc của Người: xây dựng đất nước Việt Nam giàu mạnh nhưng đồng thời còn phải góp phần xứng đáng với thế giới. Đây là một quá trình vận hành liên tục và xuyên suốt trong quan hệ dân tộc của thế giới đương đại với bức tranh sáng tối nhiều màu sắc; là cơ hội và cũng là thách thức của các quốc gia – dân tộc.

Thứ tư, những vấn đề nảy sinh trong nội bộ một quốc gia dân tộc luôn gắn liền với bối cảnh quốc tế và quan hệ giữa các quốc gia dân tộc. Do sự gắn liền quan hệ lợi ích trong toàn cầu hóa và tác động của quan hệ dân tộc xuyên biên giới và xuyên quốc gia nên không ít vấn đề ban đầu thuộc về nội bộ của một nước, song vì lý do này hoặc lý do khác, đã vượt qua biên giới và phạm vi quốc gia dưới những hình thức khác nhau, trở thành vấn đề có sự can dự của thể chế quốc tế hoặc một số nước khác trong hay ngoài khu vực và phụ thuộc vào sự phân chia “miếng bánh lợi ích” của những nước này. Xu thế đó đòi hỏi phải xử lý mối quan hệ giữa chủ quyền quốc gia với quan hệ quốc tế trong điều kiện mới khi quan hệ quốc tế chịu những ràng buộc của nhiều phía. Ngày nay, trong xử lý các mối quan hệ quốc tế, đang có xu hướng đa dạng hóa các công cụ, thí dụ: thay vì chỉ dùng áp lực quân sự như trước, còn xuất hiện các hình thức khác, như trừng phạt phi vũ trang về kinh tế, về ngoại giao… Về bản chất, đó là hiện tượng bất bình đẳng một cách thô bạo trong quan hệ quốc tế, biểu hiện của chủ nghĩa dân tộc cực đoan cần phải bị lên án, bác bỏ.

Thứ năm, những diễn biến của vấn đề dân tộc trong thế giới đương đại luôn luôn gắn liền với sự phát triển kinh tế và vấn đề tôn giáo. Đường lối phát triển kinh tế của một quốc gia là sự phản ánh nhu cầu và khả năng phát triển vì lợi ích của cộng đồng cư dân chung sống trong quốc gia đó, trong đó có lợi ích và nhu cầu của các dân tộc – tộc người. Lợi ích của các thành phần dân tộc – tộc người được đáp ứng tốt nhất và hài hòa nhất trong điều kiện có thể là thước đo sự đúng đắn của lý thuyết mô hình phát triển kinh tế của quốc gia, nó có tác dụng thúc đẩy phát triển mạnh mẽ tính tích cực xã hội của các tộc người, củng cố và phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc – động lực chủ yếu thúc đẩy sự phát triển xã hội.

Kinh tế tăng trưởng nhanh hay chậm, đời sống nhân dân cao hay thấp, phân hóa giàu nghèo nhiều hay ít đều tác động trực tiếp đến đoàn kết dân tộc và là một điều kiện để giải quyết vấn đề xung đột dân tộc. Điều này thể hiện rõ nhất đối với các nước đang phát triển, nhất là những nước chậm phát triển. Tuy nhiên, điều đó cũng không có nghĩa là ở những nước phát triển thì không có vấn đề gì về dân tộc, nhưng yếu tố kinh tế ở số đông những nước đang phát triển và chậm phát triển tác động nhiều hơn đến việc đoàn kết dân tộc.

Giữa vấn đề dân tộc và vấn đề tôn giáo có mối quan hệ mật thiết từ trong quá trình lịch sử. Trong điều kiện mới hiện nay, mối quan hệ này mang sắc thái mới, bởi bản thân các tôn giáo đã và đang có nhiều thay đổi để thích nghi. Những nét mới của tình hình tôn giáo đáng chú ý là:

– Một số tôn giáo lớn đã lan tỏa ngày càng rộng tại nhiều quốc gia ở nhiều châu lục.

– Sinh hoạt tôn giáo được triển khai dưới nhiều hình thức thích nghi mới.

– Bộ phận tôn giáo cực đoan đã xuất hiện và hoạt động vượt ra khỏi phạm vi pháp luật và những thiết chế vốn có của tôn giáo mà biểu hiện cụ thể là khủng bố quốc tế.

– Lập nhà nước tôn giáo, chính phủ tôn giáo, liên minh tôn giáo.

Những hiện tượng mới của tôn giáo thường gắn với một số tộc người, tạo nên những xung đột dân tộc mang màu sắc tôn giáo, làm cho vấn đề dân tộc càng trở nên phức tạp ở một số nơi. Đó là những biến tướng tôn giáo phi truyền thống cần được nhìn nhận một cách khách quan bản chất của hiện tượng này.

Những biến động chính trị – xã hội của thế giới đã và đang diễn ra nhiều khi khó dự đoán. Chúng ta chỉ có thể xuất phát từ thực tế đã có để rút ra những nhận xét ban đầu. Đó chỉ có thể coi là những gợi mở có ý nghĩa tham khảo, nhằm góp phần tìm hiểu một số vấn đề liên quan đến các trào lưu tư tưởng về vấn đề dân tộc của thế giới đương đại, giúp cho việc nghiên cứu những vấn đề đặt ra hiện nay cho Việt Nam trong lĩnh vực rộng lớn này./.

PGS.TS. Trần Hậu.

——————————–

* Bài viết là sản phẩm nghiên cứu của đề tài khoa học cấp nhà nước “Một số vấn đề lý luận cơ bản về dân tộc trong thế giới đương đại và những vấn đề đặt ra cho Việt Nam” (Ủy ban Dân tộc). Mã số GTDT01.06/06-20