Bạn đang tại:--“Sợi chỉ đỏ” tại EEZ

“Sợi chỉ đỏ” tại EEZ

Theo Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS) năm 1982, Vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) là một vùng biển đặc thù, trong đó, quốc gia ven biển có những thẩm quyền riêng biệt nhằm mục đích kinh tế, tuân theo những quy định của UNCLOS 1982. “Thẩm quyền riêng biệt” này phải được các quốc gia ven biển ký kết UNCLOS tuân thủ, coi đây là “sợi chỉ đỏ” xuyên suốt quá trình thực hiện các mục tiêu trên biển.

Tàu cá đánh bắt xa bờ của ngư dân Bình Định khai thác hải sản tại khu vực quần đảo Trường Sa. Ảnh: Văn Chương

Thẩm quyền riêng biệt

Điều 57, UNCLOS 1982 quy định, chiều rộng EEZ “không được mở rộng ra quá 200 hải lý tính từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải”. EEZ nằm ở phía ngoài lãnh hải và tiếp liền với lãnh hải. Trong EEZ, quốc gia ven biển có quyền chủ quyền về kinh tế và quyền tài phán.

Điều 62 của UNCLOS quy định quyền chủ quyền về kinh tế bao gồm các quyền đối với khai thác tài nguyên sinh vật, tài nguyên không sinh vật của cột nước bên trên đáy biển, của đáy biển và lòng đất dưới đáy biển, cũng như về những hoạt động khác nhằm thăm dò và khai thác vùng này vì mục đích kinh tế; quyền tài phán theo đúng những quy định thích hợp của công ước về việc: Lắp đặt và sử dụng các đảo nhân tạo, các thiết bị và công trình, nghiên cứu khoa học về biển, bảo vệ và gìn giữ môi trường biển; các quyền và các nghĩa vụ khác do công ước quy định.

Theo Điều 58 của Công ước, các quốc gia được hưởng các quyền tự do hàng hải và hàng không… Tuy nhiên, khi thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình trong EEZ của nước khác, các quốc gia phải tôn trọng luật và quy định mà quốc gia ven biển đã ban hành theo đúng các quy định của UNCLOS. Mọi tổ chức, cá nhân nước ngoài muốn khai thác tài nguyên trên EEZ phải có sự xin phép và đồng ý của quốc gia ven biển.

Các quốc gia khác có biển và không có biển có 3 quyền khi đi vào vùng 200 hải lý thuộc EEZ và thềm lục địa của quốc gia ven biển, bao gồm: Quyền tự do hàng hải, hàng không, quyền tự do đặt dây cáp, ống dẫn dầu ở đáy biển của vùng thềm lục địa. Tuy nhiên, nếu các quốc gia thực hiện những quyền này mà ảnh hưởng đến các hoạt động thăm dò khai thác, kinh tế hoặc nghiên cứu khoa học của quốc gia ven biển thì phải được sự cho phép của quốc gia ven biển. Nếu không được phép là vi phạm EEZ và thềm lục địa của quốc gia ven biển.

Sợi chỉ đỏ” của Việt Nam

Với đường bờ biển dài 3.260km cùng nhiều đảo và quần đảo, Việt Nam là một quốc gia ven biển có đầy đủ các quyền và tuân thủ các nghĩa vụ được quy định trong UNCLOS. Theo Công ước, mỗi quốc gia ven biển có 5 vùng biển gồm: Nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa.

Ngày 12-11-1982, Chính phủ Việt Nam tuyên bố đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải Việt Nam. Đây cũng là căn cứ để Việt Nam xác định phạm vi các vùng biển thuộc chủ quyền và quyền tài phán quốc gia theo khung pháp lý được UNCLOS đề ra.

Đội tàu công suất lớn của ngư dân Quảng Ngãi ngày mở biển. Ảnh: Văn Chương

Theo các chuyên gia, Việt Nam có quyền chủ quyền và quyền tài phán ở EEZ và thềm lục địa, trong đó, quan trọng nhất là quyền thăm dò, khai thác các tài nguyên nằm trong khu vực đó. Vì đây là đặc quyền của quốc gia ven biển nên nếu các quốc gia khác muốn khai thác phải có sự đồng ý bằng văn bản của quốc gia ven biển đó. Trong nhiều động thái đe dọa chủ quyền trên biển của Việt Nam, Chính phủ Việt Nam luôn lên tiếng khẳng định, các lực lượng chức năng trên biển của Việt Nam tiếp tục triển khai nhiều biện pháp phù hợp thực thi chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán một cách hòa bình, đúng pháp luật nhằm bảo vệ vùng biển Việt Nam; nhấn mạnh, duy trì trật tự, hòa bình, an ninh ở khu vực Biển Đông là lợi ích chung của các nước trong và ngoài khu vực cũng như cộng đồng quốc tế; đồng thời bày tỏ mong muốn các nước liên quan và cộng đồng quốc tế cùng nỗ lực đóng góp nhằm bảo vệ và duy trì lợi ích chung này.

Bài viết của Hồng Ngọc, Báo Biên phòng (http://www.bienphong.com.vn).

———————————————————————

Để hiểu rõ hơn về Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS) trong “Phương pháp xác định thềm lục địa“, bạn đọc có thể tham khảo thêm bài viết của Đại tá, PGS, TS Phạm Công Chiến và Đại tá, ThS Nguyễn Văn Thủy đăng trên Báo Biên phòng ngày 01/8/2011 tại đây Hoặc xem nguyên văn bài viết ở phía dưới: 

Công ước quy định (Điều 76): “Thềm lục địa của một quốc gia ven biển bao gồm đáy biển và lòng đất dưới đáy biển bên ngoài lãnh hải của quốc gia đó, trên toàn bộ phần kéo dài tự nhiên của lãnh thổ đất liền của quốc gia đó, cho đến bờ ngoài của rìa lục địa hoặc đến cách đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải 200 hải lý, khi bờ ngoài của rìa lục địa của quốc gia đó ở khoảng cách gần hơn”.

Ranh giới phía ngoài TLĐ do quốc gia ven biển tự xác định, tuyên bố hoặc đàm phán (với quốc gia hữu quan) để xác định nếu hai quốc gia có TLĐ tiếp giáp hoặc đối diện và có danh nghĩa pháp lý TLĐ chồng nhau. Tuy nhiên, do đặc điểm địa lý tự nhiên của các quốc gia ven biển khác nhau nên việc ấn định ranh giới phía ngoài TLĐ của các quốc gia ven biển và phạm vi TLĐ của các quốc gia cũng khác nhau. Thực tế, có quốc gia ven biển ấn định chiều rộng TLĐ là 200 hải lý, nhưng lại có quốc gia ấn định chiều rộng TLĐ lớn hơn 200 hải lý… Theo quy định của Công ước, các quốc gia ven biển căn cứ vào đặc điểm địa lý tự nhiên để ấn định phạm vi lãnh hải của mình nhưng chiều rộng TLĐ không thể vượt quá 350 hải lý.

Việc xác định TLĐ và ranh giới TLĐ có quan hệ chặt chẽ với nhau và liên quan đến lợi ích tối đa của quốc gia ven biển.

Việc xác định phạm vi TLĐ của các quốc gia ven biển phải tuân thủ theo các quy định cụ thể của Công ước quốc tế về Luật Biển năm 1982.

– Ở những khu vực bờ ngoài của rìa lục địa (phần nền lục địa ngập dưới nước với độ dốc thoai thoải) của quốc gia ven biển cách đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải không đến 200 hải lý thì TLĐ được xác định đến 200 hải lý.

– Những khu vực bờ ngoài của rìa lục địa vượt quá 200 hải lý tính từ đường cơ sở thì TLĐ được xác định như sau:

+ Nối các điểm có bề dày lớp trầm tích (nơi tích tụ dầu khí, khoáng sản) ít nhất bằng 1% khoảng cách từ điểm đó đến chân dốc lục địa (dốc lục địa là phần nằm giữa TLĐ tự nhiên và bờ lục địa, nơi có sự thay đổi độ dốc đột ngột).

+ Nối các điểm cách chân dốc lục địa một khoảng cách 60 hải lý.

Để hạn chế việc mở TLĐ quá rộng của các quốc gia ven biển, Công ước quy định không được xác định TLĐ vượt quá giới hạn 350 hải lý hoặc vượt quá 100 hải lý kể từ đường đẳng sâu 2.500m (đường nối liền các điểm có chiều sâu 2.500m).

Như vậy, xác định ranh giới ngoài TLĐ Công ước Luật Biển sử dụng và kết hợp cả 3 yếu tố sau:

– Khoảng cách (200 hải lý, 350 hải lý tính từ đường cơ sở; 60 hải lý tính từ chân dốc lục địa và 100 hải lý tính từ đường đẳng sâu).

– Địa chất (sự kéo dài tự nhiên rìa lục địa, bề dày lớp trầm tích, chân dốc lục địa).

– Độ sâu (đường đẳng sâu 2.500 m)1.

Sau khi xác định ranh giới TLĐ, quốc gia ven biển phải gửi cho Ủy ban Ranh giới TLĐ và Tổng Thư ký Liên hợp quốc các tài liệu có liên quan để kiểm tra và công bố cho các thành viên Liên hợp quốc.

Thực tiễn quốc tế cho thấy, nhiều quốc gia tuyên bố về đường cơ sở, vùng đặc quyền kinh tế và TLĐ không phù hợp với quy định của Công ước. Điển hình, Trung Quốc đưa ra Tuyên bố về đường cơ sở năm 1996, Tuyên bố về vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa 1998 có nhiều nội dung không phù hợp với quy định của Công ước. Trung Quốc đã vạch đường cơ sở, xác định TLĐ cho quần đảo Tây Sa (quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam), vi phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo này. Trung Quốc đã coi quần đảo Hoàng Sa như một “quốc gia quần đảo” để vạch đường cơ sở và TLĐ cho quần đảo này. Đặc biệt, Trung Quốc đưa ra yêu sách “đường lưỡi bò” (yêu sách đối với 80% diện tích của Biển Đông)2, “ôm trọn” quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam và gửi bản đồ yêu sách cho Ủy ban Ranh giới TLĐ của Liên hợp quốc. Trung Quốc chưa đưa ra giải thích chính thức về yêu sách “đường lưỡi bò” của mình… Có thể khẳng định: Yêu sách “đường lưỡi bò” của Trung Quốc là không có cơ sở pháp lý quốc tế và cơ sở lịch sử. Các nước ASEAN đều lên tiếng phản đối yêu sách “đường lưỡi bò” của Trung Quốc, thể hiện trong Công hàm phản đối của Việt Nam và Ma-lai-xi-a ngày 8-5-2009; In-đô-nê-xi-a ngày 8-7-2010, Kháng thư của Phi-líp-pin ngày 5-4-2011 đã chỉ ra việc Trung Quốc không thể đòi yêu sách về các vùng biển mà không dựa vào nguyên tắc “đất thống trị biển” và các quy định của Công ước. Yêu sách “đường lưỡi bò” của Trung Quốc gây quan ngại cho các nước trong khu vực và trên thế giới. 

Thềm lục địa Việt Nam

Tuyên bố của Chính phủ Việt Nam ngày 12-5-1977 về lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa quy định khẳng định: “Thềm lục địa của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam bao gồm đáy biển và lòng đất đưới đáy biển thuộc phần kéo dài tự nhiên của lục địa Việt Nam mở rộng ra ngoài lãnh hải Việt Nam cho đến bờ ngoài của rìa lục địa; nơi nào bờ ngoài của rìa lục địa cách đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải Việt Nam không đến 200 hải lý thì thềm lục địa nơi ấy mở rộng ra 200 hải lý kể từ đường cơ sở đó.

Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có chủ quyền hoàn toàn về mặt thăm dò, khai thác, bảo vệ và quản lý tất cả các tài nguyên thiên nhiên ở thềm lục địa Việt Nam, bao gồm tài nguyên khoáng sản, tài nguyên không sinh vật và tài nguyên sinh vật thuộc loại định cư ở thềm lục địa Việt Nam”.

Các đảo và quần đảo xa bờ biển của Việt Nam đều có lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa riêng. 

Theo tuyên bố trên, TLĐ của Việt Nam bao gồm đáy biển và lòng đất đưới đáy biển thuộc phần kéo dài tự nhiên của lục địa Việt Nam mở rộng ra ngoài lãnh hải Việt Nam cho đến bờ ngoài của rìa lục địa; ở nơi nào TLĐ không đến 200 hải lý (khu vực biển miền Trung Việt Nam) thì cũng được tính 200 hải lý; đối với những khu vực TLĐ của Việt Nam không tiếp giáp hoặc chồng lấn với TLĐ của nước khác (khu vực biển phía Đông Nam Việt Nam) thì TLĐ ở khu vực đó được mở rộng hơn 200 hải lý tính từ đường cơ sở theo quy định của Công ước. Tuyên bố của Chính phủ Việt Nam về TLĐ của Việt Nam hoàn toàn phù hợp với quy định của Công ước.

Cho đến nay, Việt Nam đã ký kết các điều ước quốc tế phân định vùng đặc quyền kinh tế, TLĐ với Thái Lan (năm 1997); In-đô-nê-xi-a (năm 2003), phân định ranh giới vùng đặc quyền kinh tế, TLĐ trong Vịnh Bắc Bộ với Trung Quốc (năm 2000) và đang tiến hành đàm phán phân định khu vực cửa Vịnh Bắc Bộ. Việt Nam và Cam-pu-chia chưa phân định ranh giới các vùng biển, nhưng đã ký Hiệp định về vùng nước lịch sử chung giữa hai nước năm 1982; Việt Nam và Ma-lai-xi-a đã thoả thuận khai thác chung vùng chồng lấn TLĐ (chưa phân định ranh giới vùng đặc quyền kinh tế, TLĐ); phân định các vùng biển với Cam-pu-chia, sau đó sẽ tiến hành đàm phán phân định ranh giới vùng đặc quyền kinh tế, TLĐ với Ma-lai-xi-a; phân định các khu vực chồng lấn liên quan nhiều bên (Việt Nam, Ma-lai-xi-a, Thái Lan…). Đây là những vấn đề hết sức phức tạp, nhạy cảm và có liên quan đến lợi ích của nhiều quốc gia trong khu vực và trên thế giới, đòi hỏi một quá trình đàm phán lâu dài mới có thể giải quyết được.

Theo quy định của Công ước (Khoản 3, Điều 77) “Các quyền của quốc gia ven biển đối với thềm lục địa không phụ thuộc vào sự chiếm hữu thực sự hay danh nghĩa, cũng như vào bất cứ tuyên bố rõ ràng nào” ý nói, đây là quyền đương nhiên của quốc gia ven biển mà không phải phụ thuộc vào các điều kiện nào khác… Vì vậy, các lực lượng tuần tra, kiểm soát trên biển của Việt Nam, cũng như các lực lượng dân sự tham gia quản lý, bảo vệ các vùng biển của Việt Nam phải đề cao trách nhiệm, bảo vệ vững chắc chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán của Việt Nam trên các vùng biển, kể cả các vùng biển còn đang tranh chấp với các nước hữu quan.

2019-10-11T11:09:41+00:00 02/10/19|BIỂN VÀ HẢI ĐẢO VIỆT NAM|